Chúng ta dang tay chào đón
người mới đến với tất cả tình
thương. Lúc đầu họ thường
ngạc nhiên, nếu trước kia họ
không học hỏi và tham thiền.
Họ đói họ khác thì chúng tôi
cho ăn cho uống tuy đó chỉ là
tưởng tượng nhưng họ coi là
thật vì vẫn tưởng là còn xác
thân. Dần dần quen rồi, họ
mới thấy rằng không cần ăn
uống nữa. Chúng tôi để mặc
họ muốn làm gì tùy ý, nhưng
sẵn sàng giúp họ.
Người tự sát tưởng rằng hủy
thân đi là hết, không biết rằng
hồn vẫn còn, và như thế vấn-
đề vẫn còn, lại thêm khó khăn
hơn nữa. Trong cõi vô hình
không giải quyết được vấn đề
trần gian, phải đợi sang đời
sau, biết đến bao giờ? Linh
hồn rất đau khổ, tức giận cho
mình đã phí mất một đời,
khiến cho đời sau càng thêm
nặng nợ và còn mang cái tội là
đã hủy diệt sự sống mà
Thượng Ðế đã ban cho, không
ai được quyền lấy đi.
Kẻ sát nhân cũng rất đau khổ,
không những đau khổ vì
không thể trả lại đời sống cho
nạn nhân của y nay cùng ở với
y, mà còn đau khổ vì đã cản
trở nạn nhân trả nghiệp quả
riêng của họ. Hai hạng người
nầy tự mình bị dày vò cực khổ
vô cùng tro ng thời gian rất
lâu chờ đợi để được sang đời
khác đền bù tội lỗi.
Những người tuy không có tội
nặng nhưng rất khó thích nghi,
là những người không tin rằng
có đời sống vô hình. Người vô
tín-ngưỡng từ trước vẫn nghĩ
rằng chết rồi là hết, nên
không sẵn sàng để đón nhận
hoàn cảnh bất ngờ, nay rất
ngạc nhiên, tưởng rằng những
người và cảnh vật trông thấy
quanh y chỉ là ảo ảnh, do y
tưởng tượng. Trong lúc sống
không tử tế với ai, tự nghĩ
không có bổn phận giúp đở ai.
Nay y phải ở chung với đám
người cũng ích kỷ như y,
nhưng thô-lỗ cục-cằn mà y coi
là hạ cấp, muốn thoát ra khỏi
mà không được, rất là khổ sở.
Người còn tha thiết đến đời
vật chất, đến những người
thân, đến tiền của công việc
còn bỏ lại, thì tâm trí loạn
động nhiều, cần một thời gian
dài và nhờ những linh hồn
khác giúp đỡ, mới dần dần bỏ
được sợi dây ràng buộc y với
đời sống trên trần. Rồi y phải
kiểm điểm những lầm lỗi
trước và tìm cơ hội tái sinh để
chuộc lại.
Trước khi lựa chọn nơi tái
sinh, tâm linh phải tự kiểm
điểm xem những món nợ nào
cần trả trước và cần có những
đức tính nào để tiến. Rồi phải
tìm xem hoàn cảnh nào thích
hợp với điều kiện của mình.
Nếu y muốn học yêu thương,
thì phải chọn nơi nào đức tính
ấy không có nhiều. Thường y
chọn cha mẹ ở những người
xưa kia y đã biết hoặc có sự
liên lạc về nhân quả. Rồi y
chọn phái nam hay nữ để có
thể tiến được nhiều hơn. Nếu
nhiều linh hồn trình độ ngang
nhau muốn đầu thai và cùng
một nơi, thì hồn nào thích hợp
hơn cả sẽ được lựa chọn, sự
lựa chọn nầy có thể ví như
máy tính thiên tạo tự động ghi
nhận và ấn định tư cách của
mỗi linh hồn.
Linh hồn được trúng tuyển
bay lơ-lững gần cha mẹ, và
khi ngày giờ đã đến, nhập vào
bào thai hoặc đúng lúc hoặc
ngay trước hay ngay sau khi
lâm sản. Những linh hồn bị
loại đi tìm nơi khác thích hợp
với mình.
Trường hợp đứa trẻ mới sinh
ra đã bị tật nguyền, là gì linh
hồn đã chọn thân hình bất
toàn ấy, thay vì một thân hình
đầy đủ, để trả nợ mau chóng
hơn. Những chướng ngại trong
đời vật chất càng nhiều, thì
linh hồn tiến hóa càng nhanh,
nhanh hơn là những người có
đủ tiện nghi trên đời. Càng
tiến nhanh trên phương diện
tâm linh, thì càng ít phải trở
lại thân xác thịt.
Thường thường linh hồn trước
kia thuộc phái nào, nam hay
nữ thì lại thác sinh vào phái
ấy. Nhưng cũng có khi lựa
chọn phái khác để học hỏi,
như một người tính vũ phu
muốn sinh ra phái nữ để học
tính dịu-dàng, một phụ nữ
nhút-nhát sinh ra phái nam để
học can đảm. Trường hợp một
bà bị tê liệt nửa người và run
rẩy, chúng tôi nhận thấy rằng
trong một tiến thân, người ấy
ở thành La-Mã là một tên lính
dữ tợn ưa làm cho kẻ khác
run sợ; Y đã thả thú dữ ra để
cho nạn nhân sợ hãi trước khi
bị cắn xé. Nay để đền tội, y
phải sinh ra làm một người
đàn bà yếu ớt và run rẩy.
Những linh hồn đã tiến hóa
đến một trình độ tương đối
cao, đều hộp nhau để học hỏi.
Không có lể nghi như ở trần
gian hộp ngày chúa nhật tán
dương Thượng Ðế. Những linh
hồn nầy trong đời vật chất đã
tiến hóa, đã tham thiền để hòa
đồng với Vũ -trụ. Họ đã không
uổng phí thời giờ trên mặt
đất, nay họ có thể tiến hóa
nhanh chóng hơn. Nhờ bước
tiến nhanh, những lần phải
luân hồi sau nầy sẽ giảm bớt
đi. Có ở trình độ nầy mới biết
cái cảm giác thích thú và thỏa
mãn được tiếp tục học hỏi về
tâm linh khi bước sang cõi
nầy. Những người không tin
và nhạo báng rất đáng thương,
họ không bao giờ biết cảm
giác khoái lạc ấy.
Những linh hồn đã tiến hóa
luôn luôn hoạt động. Một số
trong chúng tôi học hỏi để
tiếp tục tiến hóa, một số dạy
những linh hồn mới đến, một
số nữa tham thiền và cầu
nguyện mong chuộc tội lỗi đã
qua. Ðừng có điên rồ tưởng
rằng chúng tôi lìa bỏ xác phàm
bước sang thế giới tâm linh là
chúng tôi gần thiên đường
hơn và tự nhiên được hợp
nhất với Thượng Ðế. Muốn
đạt tới sự hợp nhất ấy, phải
trải qua nhiều triệu triệu năm
cố gắng đặc biệt theo luật
Thượng Ðế và giúp đở người
khác trên đường thăng tiến.
Mỗi việc lành ta làm cho
người khác mà không cầu báo
là một lần làm thêm sáng tỏ
và rút ngắn bớt con đường ấy.
Tâm bố thí không giới hạn,
không mong báo đáp, là bật
thang lên thành quả tâm linh.
Ðừng cho tay trái biết việc
làm của tay phải. Hãy bố thí
trong thầm lặng, đừng nói cho
ai biết, nên tìm cái vui thú
trong việc làm hơn là trong lời
nói. Nếu người đời đã khen,
đã ca tụng rồi, thì còn mong gì
Thượng Ðế khen thưởng nữa.
Ta không mong ai ca ngợi khi
ta tự giúp ta, tại sao ta lại
mong ca ngợi khi ta giúp
người khác, khi người ấy cũng
là một phần chúng ta, một
phần của Thượng Ðế!
Bên trong mỗi chúng ta đều
có trí sáng suốt hiểu rõ chân
lý. Chúng ta đều có khả năng
tiến tới cái gọi là Thượng
Chủng, nghĩa là giống thượng
đẳng (super race). Xưa kia
chúng ta là một phần của
Thượng Chủng, nhưng về sau
lòng tham lam, ích kỷ, thù hận
và nhiều ý nghĩ tồi tệ khác
dần dần thâm nhập vào những
người mang thân xác thịt.
Tiềm thức chúng ta chứa chất
tất cả mọi điều hiểu biết mà
chúng ta thu thập từ khi bắt
đầu được cấu tạo. Nó là cái
kho tài liệu vĩ đại nhất chưa
bao giờ thấy, nhưng trong khi
còn mang thân xác thịt thì
không thể mở kho ấy bằng
cách thường. Qua những giấc
mơ và lúc tham thiền, hoặc
nhờ thôi miên đúng phép, ta
cũng chỉ có thể mở được một
phần mà thôi. Nhưng ở đây,
trong cõi vô hình, tất cả kho
ấy trong đời quá khứ luôn
luôn bày ra trước mắt, và nếu
tâm linh ta có khả năng hơn,
ta có thể thấy được các đời
trước nữa.
Có rất nhiều trường dạy tiến
hóa tùy theo trình độ của linh
hồn. Chúng ta được tạo nên do
một phần của Thượng Ðế, có
đủ tính chất của Thượng Ðế,
vậy muốn hoàn tất cuộc hành
trình của chúng ta và trở về
với Thượng Ðế, thì phải được
thấm nhuần triết lý của Vũ-
trụ và hiểu biết luật lệ của
Vũ-trụ để được hòa đồng với
Tạo-Hóa là cha chúng ta.
Ông Ford nói đến hai phần tự
tin là mình hoàn toàn, đã đạt
tới đức hạnh bực Thánh.
Một người cho rằng mình đã
sẵn-sàng để được vào hàng
Thánh, và mong được Thánh
Gabried dẫn đến ngay vàng
của Thượng Ðế ngay khi bước
sang cõi vô hình. Y khoe với
mọi người rằng y không hề
làm gì lầm lỗi, không bao giờ
trộm cắp, lừa dối, tà dâm. Y
làm việc trong nhà thờ và dự
vào nhiều việc từ thiện, y chắc
rằng đời sống nầy là đời cuối
cùng trước khi về với Thượng
Ðế ở trên trời. Tâm y nhẹ
nhàng khi bước qua bên nầy,
và tỉnh giậy thấy quanh mình
phong cảnh ngoạn mục. Y
thấy một đám người áo trắng
đi đến tưởng rằng họ đến đón
y, nhưng họ đi thẳng. Lại thấy
lũ trẻ chơi đùa, y gọi chúng
hỏi thánh Gabried ở đâu,
chúng nói chúng chẳng gặp
thánh thần nào cả. Y tìm đến
một ông già râu bạc ngồi
trong lều, y hỏi đường đi tìm
thánh Gabried, Ông già nói:
"con đường nằm ở bên trong"
Y nghĩ là một đường hầm,
nhưng tìm không thấy, y lại
hỏi: "tại sao không ai chỉ
đường cho tôi đến Thượng
Ðế? Tôi có việc cần gặp
Thượng Ðế, Thượng Ðế ở
đâu?".
Ông già lại nói: "hãy nhìn vào
bên trong"
Y nhìn quanh trong lều chẳng
thấy gì, bực mình nói: "đừng
có đùa bỡn, tôi cần đến Thiên
đình."
Ông già nói rõ: "Tôi biết , nên
tôi đã bảo anh hãy nhìn vào
bên trong anh. Ai nấy đều
phải tự xét đoán mình trước
khi gặp Ðức Sáng Tạo.
- Nhưng tôi không làm gì lầm
lỗi cả, đời tôi trong sạch nay
tôi sẵn sàng gặp Thượng Ðế.
- Còn tánh tự phụ của anh thì
sao? anh lấy làm chắc rằng
anh không lầm lỗi?
- Tôi chắc, vì cả đời tôi không
làm gì trái cả. Tôi đã cố gắng
làm phận sự, và nay tôi chờ
được khen thưởng trên trời.
Bấy giờ ông già nắm tay y nói:
"con chưa thấy sao con? Con
đã nghĩ đến linh hồn con
nhiều quá, mà không nghĩ đến
làm bớt đau khổ cho những
người không bằng con. Con đã
bao giờ hy sinh miếng bánh
của con cho kẻ ăn mày đói
ngồi ở đầu đường chưa? Con
có lúc nào bớt thì giờ để nghe
những nỗi khó khăn của người
dưới quyền con không? Con
có bao giờ nghĩ đến làm cho
tâm hồn vợ con được thoải
mái không? Nay vợ con được
sung sướng hơn khi con còn
sống, vì không phải bị con bắt
phải kính trọng con như một
ông thánh. Hãy nhìn xem vợ
con đang làm gì."
Lúc ấy y nhìn thấy nhà y ở
California. Một người đàn ông
ngồi ruỗi dài trên ghế của y.
Vợ y trông khỏe mạnh vui vẻ.
Người kia nói: "Chúng ta sẽ
được hoàn toàn hạnh phúc.
- Phải sau khi mãn tang.
- Sau lâu thế.
- Sợ người ta chê cười. Còn
John thì chắc y chẳng để ý gì
đến dưới nầy nữa, chắc y
đương ở trên trời và tìm đến
Thượng Ðế. Thật là khó kinh
khủng mà sống với một người
tự cho mình là ông thánh."
Bấy giờ y mới nhìn vào nội
tâm y và nhận thấy rằng y đã
lo tạo cho y trở thành ông
thánh nhiều hơn là phụng sự
Thượng Ðế và những người
chung quanh. Tệ hại hơn nữa
là y đã được nhiều lời khen
ngợi ở thế gian về việc làm
của y, nên không còn gì để
đem theo tâm linh nữa. Nay y
hiểu rằng chỉ có bố thí và giúp
đỡ trong sự yên lặng vô danh
mới được thưởng công trên
trời, y đau khổ giận cho y
rằng đời gương mẫu của y đã
không giúp ích cho linh hồn y
như đã giúp cho đời vật chất
của y. Chi mà khôn g có tình
thương, tình thương không vị
kỹ, thì những việc làm của y
trong xã hội được khen ngợi
nhiều, chỉ là những ngày trống
rỗng. Nay y đã hiểu bí mật của
sự cứu rỗi là bố thí không vị
kỷ, đặt quyền lợi người khác
trước quyền lợi của mình, yêu
thương v à giúp đở lẫn nhau.
Một người đàn bà cũng tin
rằng mình có đủ đức tính của
một vị thánh và mong đợi
được đưa thẳng đến gặp
Thượng Ðế. Thị thức giậy ở
bên nầy và nhìn quanh tìm
cửa bằng ngọc để đi vào tìm
thánh Peter. Thị đến một cửa,
không đẹp như thị tưởng, đi
vào thấy vườn hoa đẹp nhưng
không để ý, chỉ chăm chăm đi
gặp Thượng Ðế. Trên đường
thấy có nhiều người cùng đi,
thị vượt lên trước họ đến một
nơi cao, chắc rằng trên đó
Thượng Ðế đương ngồi chờ
thị. Thấy một người cũng leo
lên gần thị, nhận ra bà lão ăn
mày trước kia vẫn gặp ở đầu
đường, thị tỏ ý khinh bỉ, chỗ
nầy đâu phải là nơi lão được
đến! Thấy một người trẻ tuổi
mặt sáng, chắc là một vị thiên
thần, thị xin được đưa đến
trước Thượng-Ðế. Vị nầy nói:
"Nhưng thưa bà, tất cả chúng
ta là Tượng-Ðế" Thị bực
mình, vì nói như thế là gồm cả
lão ăn mày bên cạnh thị. Thị
nói: "Ðừng có đùa cợt, ông
hãy dẫn tôi đến gặp Thượng
Ðế".
Bấy giờ đám đông mà thị đã
vượt lên trước đã đến nơi vây
quanh thị, thị bực rằng sẽ
không được đứng hàng đầu
nữa. Người trẻ tuổi nói với tất
cả đám đông:
"Quý vị hãy nghe đây, Thượng
Ðế ở khắp nơi. Thượng-Ðế là
tình thương, quý vị thương
yêu nhau và giúp đở nhau là
có Thượng-Ðế trong đó".
Thị bực lắm, hỏi rằng: "Thiên
Ðình ở đâu?
- Thiên Ðình ở ngay nơi bà
đứng."
Nhưng thị nhìn quanh, chẳng
thấy Thiên Ðình đâu cả. Dần
dần thị mới hiểu ý, Thiên
Ðình ở ngay nơi thị, quan tòa
là thị. Bấy giờ thị nhìn vào nội
tâm, mới thấy rõ sự thật kinh
khủng. Trong khi cố gắng một
đời sống trong sạch không tội
lỗi, thị chỉ nghĩ đến riêng
mình, không bao giờ có một
lời an ủi cho người kém mình,
mà lại còn muốn tránh xa sợ
họ làm nhơ bẩn cái áo trắng
trong của thị. Ðâu là tình
thương người khác? Thượng-
Ðế không cần nói, thị cảm
thấy câu trả lời trong tâm thị,
thị biết cái tâm của thị hơn ai
hết, chính thị là quan tòa của
thị.
Những người đã chết không
phải là bay lơ lửng trên không
trung. Họ ở ngay trên mặt đất,
không ở đâu khác, vì chỉ có
một Vũ-trụ duy nhất. Họ
không ngủ trên giường ta,
không ngồi trên ghế ta, nhưng
họ hoạt động ngay giữa chúng
ta. Họ cũng đi cùng đường
nhưng không bị cản trở về vật
chất, không phải đi vòng
quanh những chướng ngại như
nhà cửa hay tảng đá. Tuy họ
cùng ở với ta, nhưng ta không
thấy họ mà họ vẫn thấy ta và
biết được cả ý nghĩ của ta.