Khi chúng ta tham thiền là
chúng ta được gần Thượng-
Ðế, chúng ta gặp Thượng-Ðế
ở trong chúng ta. Càng thiền
được nhiều trong cõi hữu
hình, thì càng tiến nhanh trong
cõi vô hình. Nên nhớ là khi
tham thiền, bắt đầu phải thở
cho sâu, để tống r a những hơi
độc tích tụ trong thân hình.
Ðọc một câu chú, rồi nghĩ
rằng mình hòa đồng với Vũ-
trụ. Hãy tự coi mình là một
phần của tạo Vật, của tinh hoa
Thượng-Ðế, hãy quên cá tính
mình đi, tưởng tượng như
mình với Vũ-trụ chỉ là một.
Sau một thời gian, sẽ cảm
thấy mình nhẹ bỗng, tựa hồ
như một tâm linh bay vơ-vẫn
trong một bầu trời xa lạ. Hãy
thí nghiệm, luôn luôn giữ ý
nghĩ hợp nhất hoàn toàn,
chẳng bao lâu sẽ cảm thấy hòa
đồng với Tạo Vật. Rồi tiến sâu
hơn, hãy để cho tâm linh
Thượng Ðế tràn ngập vào tâm
khảm mình. Hãy dành ra ít
nhất 15 hay 20 phút mỗi ngày
giữ yên lặng như thế. Hãy đón
nhận lời của Thượng Ðế.
Cầu nguyện khác hẳn với
tham thiền. Cầu nguyện là tác
động, không phải thụ động
như tham thiền, mong cảm
đến trái tim của Thượng-Ðế.
Nghĩ điều thiện thì Thượng
Ðế ở kề bên. Hãy cầu nguyện
cho một mục tiêu tốt đẹp,
không phải cho lợi riêng m
ình. Nên nhớ rằng cầu nguyện
để hại người khác, thắng địch
thủ, hơn bạn bè là vô ích.
Khi một linh hồn mong đợi
gần Tâm của Thượng-Ðế, nó
sẽ nâng cao ý nghĩ đến độ
cảm thấy mình như bay bổng
và đầy khoái lạc. Cảm giác
mạnh đến nổi quên cả mình
trong thế giới tâm linh, bấy
giờ thấy rằng khoái lạc xác
thịt không còn có nghĩa g ì
nữa. Rồi từ đó sẽ tiến lên,
không phải trở lại đời vật chất
nữa. Trên tầng cao hơn, ta chỉ
còn là tâm thức, không còn
nghĩ đến cá tính nữa. Tầng
nầy chưa phải là tầng cao
nhất, chỉ là một nấc thang
trên đường tiến hóa. Chúng ta
đi trong ánh sáng, ánh sá ng
của Chân-Lý Vũ-trụ. Cũng
không ở luôn mãi đó, mà tiến
mãi đến toàn thiện.
Ông Ford nói đến một người,
lúc sống đã học hỏi, hiểu biết
và tham thiền linh hồn thoát
xác được sáng suốt ngay. Sau
khi chào hỏi bạn bè thân thuộc
y tham thiền trong khi rung
động của vũ-trụ tràn ngập y
với cảm giác sung sướng lạ
lùng. Y tìm ngay những hồn
mới đến, lạc lõng hoặc mê
man để giúp đỡ. Y không mất
một giây phút thương tiếc cho
cái thân xác đã mất, y biết
rằng sẽ gặp lại người thân
trong cõi-vô-hình, y đã để lại
mọi việc tốt đẹp trên đời, nay
y tiếp tục tiến hóa. Có nhiều
người được như thế, không
phải ai nấy đều biết rõ những
gì chờ đón họ, nhưng họ sẵn
sàng chấp nhận mọi điều
Thượng Ðế ban cho, và rất vui
mừng rằng vẫn được tiếp tục
hoạt động với nhiều việc để
làm.
Người nầy sẽ tiến rất nhanh,
sẽ sớm có dịp trở lại thân hình
khác, hoặc tiến lên tầng cao
hơn. Nếu muốn tiến lên, thì
phải học các thầy tiến hóa.
Các thầy sẽ dạy cách thay đổi
tần số rung động để dần dần
hòa nhịp với với rung động ở
tầng trên. Khi tần số rung
động của họ đã cao và lên
được tầng trên, thì chúng tôi
sẽ không thấy họ nữa, mặc dù
họ vẫn ở đây, họ vẫn thấy
chúng tôi, đại-khái cũng như
người trần không thấy chúng
tôi mà chúng tôi vẫn thấy
người trần. Nhưng nếu họ
muốn thì họ vẫn có thể hạ
thấp rung động để cho chúng
tôi thấy. Trong đoạn sau, ông
Ford sẽ nói đến những tầng
trên rõ ràng hơn.
Ông Ford trước kia đã được
lên tầng trên, nhưng tự ý
muốn trở lại thế gian để thực
hành những điều đã học hỏi.
Vì thế khi ông là mục sư ở
trong trại lính, ông đã trông
thấy danh sách những người
chết đêm trước khi ông mới
ngủ giậy còn ở trong phòng
(xem trang 13) vì đã có khả
năng nhận tin tức từ khắp nơi.
Trái lại, một người không tin,
lúc sống cho rằng chết là hết
không còn gì nữa, khi mở mắt
ra thấy có nhiều người quanh
mình khuyên nhủ và giúp đở,
lại cho là ảo-ảnh, là tưởng
tượng, không phải thực, nên
nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra
thì không thấy ai nữa, mà thấy
mình rơi vào vực thẩm đen
tối, ở trong tình trạng rất sợ
hãi. Tình trạng nầy thường
kéo dài rất lâu, đến khi nào
lòng tin trở lại, cầu Thượng
Ðế cứu, bấy giờ lại được thấy
nhiều người đến giúp đở.
Những linh hồn nầy khi tỉnh
ngộ rồi thì cố gắng học hỏi,
giúp đỡ những hồn khác và sẽ
tiến hóa nhanh. Còn những
hồn cố chấp không tỉnh ngộ
thì cứ ở trong cảnh đen tối
hàng ngàn năm.
Kẻ sát nhân cố tình giết hại
người khác để thỏa mãn ác ý
của mình, thì ở trong tình
trạng như chết một thời gian
lâu, đến khi tỉnh giậy thấy
mình ở trong địa ngục mà
chính mình đã tạo nên. Không
phải là trông thấy quỷ sứ,
nhưng thấy chính mặt y bị
biến dạng vì thù hằn, tham
lam, ác độc. Y sợ rúm lại
tưởng mình bị quỷ nhập. Y
thất đảm khi nhận ra rằng
không những y đã bỏ phí một
đời không tiến, mà còn thụt
lùi trở lại nhiều đời nữa mới
có thể chuộc được tội y. Bấy
giờ y nhớ lại ý muốn của y là
vượt qua mọi sự cám dỗ khi y
bước vào cuộc đời, khốn nỗi y
đã làm trái ngược với ý muốn
ấy.
Linh hồn nầy bị đau khổ trong
thời gian rất dài. Ðến khi thất
vọng cùng cực, y rên xiết cầu
Thượng-Ðế cứu. Nếu y thực
tâm hối hận, những linh hồn
khác sẽ đến giúp y, và dần
dần y sẽ tiến lên rất chậm, rất
chậm, cho đến khi hiểu biết
cái hình phạt vì đã lấy đi một
mạng sống do Thượng Ðế ban
cho. Như Lee Oswald đã bắn
John Kennedy, và Jirhan đã
bắn Bobby Kennedy, sẽ còn
phải đau khổ lâu lắm trong sự
hối hận. Ðến như Hitler thì
chẳng khác nào y bị trơ-trọi
trên một cù-lao đen tối không
nhà cửa , và sẽ không bao giờ
rữa sạch được tội ác của y.
Người tự sát trong một giây
phút thất vọng, đã lầm tưởng
rằng chết là giải quyết được
vấn đề, không biết rằng đâu
có dễ-dàng giải quyết như thế,
và chúng ta không có quyền
dập tắt ngọn lửa sống mà
Thượng Ðế đã thắp sáng lên.
Ðược mang cái thân xác thịt là
đặc-ân Thượng Ðế ban cho để
trả nợ nghiệp chướng. Nhiều
hồn khác còn phải chờ đợi để
được trở lại làm người, nay ta
đã được rồi lại hủy bỏ cái đặc-
ân ấy, thì nghiệp chướng sẽ
tăng lên gấp mười, và phải
chờ đợi rất lâu mới lại được
đầu thai.
Những nạn nhân bị sát hại
không mang mối hận thù kẻ
đã hại mình. Ở trong cõi vô
hình mà còn hận thù thì sẽ bị
thoái hóa rất nhiều, có khi
hàng vạn năm. Họ hiểu rằng
như thế là họ đã trả được
nghiệp chướng, trả được tội
lỗi quá khứ, và sẵn sàng tha
thứ.
Ông Ford nhắc lại rằng không
có tòa án xử tội, ngoại trừ
chính lương tâm chúng ta,
lương tâm ấy lại chính là
Thượng Ðế. Khi tấm màng
che mắt ta không còn nữa, thì
ta thấy rõ đâu là trái đâu là
phải. Ta rất vui mừng khi
nhận thấy rằng những việc
giúp đở nhỏ mọn, một lá thơ
hay một nụ cười an-ủi, những
việc mà ta đã quên, lại giúp
ích cho ta tiến hóa nhiều hơn.
Trái lại những hành động mà
ta tin rằng có lợi cho ta lại làm
cho ta chậm tiến, vì ta đã làm
một cách rầm-rộ, khoa
trương, để được hãnh diện,
được khen ngợi. Hãy giúp
người chỉ vì người ta cần giúp,
tùy theo khả năng của mình,
xong rồi quên đi đừng mong
cảm ơn và báo đáp, cũng
không cần ai biết cả. Hãy coi
mình như một cái giếng, lúc
nào cũng tràn đầy tình
thương.
Chỉ có thể chữa bỏ những thói
hư tật xấu ở trong đời hữu
hình. Ở cõi vô hình không làm
gì được cả vì không có những
cám dỗ. Trường học gian khổ
là đời vật chất, có nhiều cám
dỗ mà ta phải vượt qua.
Có người lấy làm lạ tại sao có
những linh hồn tiến hóa cao
luôn luôn giúp đỡ người khác,
lại có những linh hồn cục-cằn
không hơn thú vật. Sự đó có
thật. Lúc mới đầu chúng ta
đều như nhau, là những tàn
lửa của Thượng Ðế, nhưng trải
qua những đời sống trên trái
đất, mỗi linh hồn phản ứng
với hoàn cảnh một cách khác
nhau. Chớ nên mắc vào thói
hư tật xấu, luôn luôn giúp đở
người khác, nhớ mục tiêu là
trở về với Thượng Ðế.
Ðừng mong tiến hóa lấy riêng
mình, không thể nào có
chuyện ấy. Nếu muốn chạy
đua vượt lên trước người
khác, thì không bao giờ đến
được thượng đỉnh. Bỏ lại
người khác là cách tốt nhất để
thục lùi, rồi phải bắt đầu trở
lại. Cần phải thương yêu lẫn
nhau, giúp đở người khác cùng
tiến với mình.
Tự ta ghi chép lấy vào cuốn sổ
của ta. Không có tòa án, không
có quan tòa râu bạc nào, ngoài
lương tâm của chính ta, không
thể che đậy gì được, không
thể trốn chạy đâu được.
Những tầng cao hơn có nghĩa
là những trình độ thức-giác
cao hơn, chứ không phải là ở
tầng lớp cao hơn, vì các giới
cùng ở một nơi. Muốn được
tiến lên tầng cao, cần nhiều
công phu học hỏi, những
người ở tầng trên mà muốn
xuống tầng dưới thì rất dễ-
dàng. Người ở tầng dưới
không thấy được người ở tầng
trên, nhưng người trên thấy
rõ người dưới, đại khái cũng
như chúng tôi đối với người ở
cõi trần. Không thể lấy lời nói
của trần gian để tả trình độ
sáng suốt ở mỗi tầng. Ví như
một quả bóng thổi phòng bằng
khinh khí, khi còn ở dưới đất
là còn trông thấy và sờ mó
được, nhưng khi đã cắt dây thì
quả bóng bay lên, cũng như
sợi dây bạc nối hồn với xác,
khi chết dây đứt thì hồn lìa
khỏi xác. Quả bóng lên cao
trên thượng tầng không khí,
người dưới đất không trông
thấy nữa, nhưng ở trên cao
vẫn trông thấy ở dưới. Ðó là
thí dụ rất thô sơ, nhưng khó
nói rõ hơn, vì tâm chí người ta
bị hạn chế, không thể hiểu xa
hơn được. Chúng tôi hiện nay
ở cõi trung-giới, còn có liên
lạc với đời vật chất, những
người ở tầng trên đã đoạn
tuyệt với trần gian.
Chúng tôi học hỏi ở đây, có
thể lựa chọn hoặc trở lại luân
hồi, hoặc tiến lên tầng trên.
Tầng trên ví như tầng không
khí loãng, trong một thời gian
không còn liên lạc với những
hồn khác và với cõi trần.
Chúng tôi như là bay bổng
trong một bầu khí quyển mà
tần số rung động rất cao. Tạm
giải thích như vậy, thật ra
không có lời nào tả được. Ở
đấy không khí rất mạnh, hay
đúng ra là không có không
khí, không có gì che đỡ những
tia sáng chói lọi. Chúng tôi
phải cố gắng chịu đựng ở đó,
rồi lại học hỏi để tiến xa hơn
nữa.
Rồi sau chúng tôi đi qua từ
tinh cầu nầy sang tinh cầu
khác. Chúng tôi đi trên mặt
tinh cầu như người trần đi
trên mặt trái đất, chỉ khác là
không còn thân xác thịt nặng
nề. Chúng tôi chỉ còn như là ý
nghĩ 0. Lên trên nữa thì
chúng tôi chỉ còn là ánh sáng,
tuy nhiên chúng tôi vẫn là
chúng tôi, cái ta vẫn còn.
Những tầng trên có thể gọi là
tầng thứ ba và tầng thứ bốn,
những tầng chỉ khác nhau về
tần số rung động. Chúng tôi
phải học hỏi để có thể thích
hợp được với những làn sóng
ánh sáng và tiếng động nó
mạnh đến độ có thể làm mù
hoặc điếc những người ở cõi
trần. Chúng tôi bấy giờ ở
trong tình trạng như một chất
dịch-thể, tuy nhiên không phải
là một chất lỏng. Chúng tôi
được đổ vào cái khuôn Vũ-trụ
"nói thế cho dễ hiểu" và gần
như hợp nhất với Vũ-trụ.
Ðó là tầng thứ ba. Tầng thứ
bốn là lên ở những tinh cầu
khác như Hỏa-tinh, Thủy-tinh,
Mộc-tinh, Kim-tinh, Thổ-
tinh..v.v. nhưng không phải là
thân vật chất, mà là trình độ
giác-thức cao hơn. Trên
những tinh cầu đó cũng có
hình thể sinh vật, nhưng khác
hẳn với hình thể trên trái đất,
trình độ tiến hóa các sinh vật
ấy cũng khác nhau.
Nếu một linh hồn tội lỗi nhiều
kinh khủng đến độ cần phải
tới ngàn triệu đời sống mới
chuộc được, thì linh hồn ấy sẽ
ở trong tình trạng tuyệt vọng
nơi trái đất nầy (thí dụ như
Hitler). Linh hồn ấy có khi
phải nhận lấy một thân hình
hoàn toàn khác mà chúng ta ở
trái đất không gọi là người, ở
trên một tinh cầu khắc khổ
bội phần, để có thể đền bù tội
lỗi nhanh chóng hơn.
Những tâm linh ở trái đất
muốn tiến hóa lên những tầng
cao, phải mất nhiều công phu
học hỏi nâng cao tần số rung
động của mình, để không
những lên cao mà còn phóng
mình sang tinh cầu khác. Cuộc
viễn-du nầy khiến họ học hỏi
được nhiều về nhữ ng định
luật của Vũ-trụ. Và khi lên
đến tầng thứ bốn và thứ năm,
thì có thể ở trên nhiều tinh
cầu cùng một lúc, vì khi đó
với thức-giác cao, hồn có thể
phân thân ra nhiều nơi.
Cao hơn hết là tầng thứ sáu,
linh hồn đã đạt tới toàn thiện,
có thể hợp nhất với Thượng-
Ðế. Tất nhiên chúng tôi còn
xa quá chưa thể biết được,
nhưng được dạy cho biết rằng
khi một linh hồn gần đến mức
toàn thiện, phải kiểm điểm lại
tất cả bao nhiêu đời đã qua, từ
đời trước nhất, không còn gì
vướng mắt nữa. Chúng tôi chỉ
được nghe nói thế thôi, những
linh hồn đó không bao giờ
quay ngược bánh xe vận mệnh
vòng trở lại nữa.
Sáu tầng trên đây có lẽ cũng
là những giới nói trong kinh
Phật.
Tầng thứ nhất là cõi Dương
thế mà chúng ta đương sống,
có thân hình vật chất, có dục
tính, thường gọi là hạ giới,
kinh Phật gọi là Dục giới.
Tầng thứ hai là cõi âm, cõi của
những linh hồn mới bước qua
bên kia, gọi là trung giới, kinh
Phật gọi là Sắc giới.
Tầng thứ ba linh hồn không
còn sắc chất, là Vô Sắc giới.
Tầng thứ tư chỉ còn ý nghĩ, là
Hữu Tưởng giới.
Tầng thứ năm chỉ còn ánh
sáng, là Vô Tưởng giới.
Tầng thứ sáu linh hồn đạt tới
toàn thiện, là Phi-Hữu-Tưởng-
Phi-Vô-Tưởng-Giới, có lẽ là
giới của các vị Giáo chủ: Phật,
Chúa ..v.v..
Trên hết là Thượng Ðế, có thể
gọi là tầng thứ bảy.
Ðó là lấy trí nhỏ mọn của tôi
đoán phỏng như thế.
Sau hết, ông Ford nhắc lại
rằng trong cõi trung-giới mà
ông đương ở, không có thời
gian: Chúng tôi nhận thấy rằng
chúng tôi tồn tại luôn luôn, vô
thủy vô chung. Chúng tôi có
thể thấy một khoảng thời gian
dài hơn người đời thấy rất
nhiều, nhưng vẫn không thể
biết được đâu là khởi đầu đâu
là tận cùng. Chúng tôi chỉ hiểu
biết rộng hơn người trần gian
về mục tiêu của Thượng Ðế,
nhưng chúng tôi chưa phải là
hoàn toàn sáng suốt.